2 bài Phân tích hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân rất hay

Phân tích hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân – bài số 1:

Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân được bạn đọc biết tới với tư cách là nhà văn cách mạng. Lúc này, nhà văn say sưa thâm nhạp thực tế để có vốn sống phong phú rồi viết nên các tác phẩm đậm hơi thở cuộc sống. “Người lái đò sông Đà” (in trong tập tùy bút sông Đà, 1960) ra đời trong quỹ đạo chung ấy. Đọc tác phẩm, người đọc cảm nhận được tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hưỡng của Nguyễn Tuân. Lấp lánh hiện lên trong tình yêu ấy, độc giả cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng sông Đà. Có thể thấy, trong ngòi bút tài hoa của nhà văn, sông Đà đã trở thành hình tượng nghệ thuật độc đáo, trở thành sinh thế sống có hồn, nổi bật với hai nét tính cánh: hung bạo và trữ tình.

Nguyễn Tuân là nhà văn có kiến thức uyên thâm. Viết về sông Đà, nhà văn có dịp thể hiện ưu thế nổi bật ấy của mình. Đọc “Người lái đò sông Đà”, độc giả bị thu hút thực sự trước những thoog tin mà nhà văn giới thiệu về nguồn gốc sông Đà.

Theo nhà văn, sông Đà khai sinh ở miền Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam, lấy tên là Li Tiên ( theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên Trung Quốc của sông Đà là Bả Biên Giang). Sông Đà chảy qua một vùng núi ác, gần đến nửa đường thì “ xin nhập quốc tịch Việt Nam”. Cứ thế, dòng sông trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào sông Hồng. Theo Nguyễn Tuân, “từ biên giới Việt Trung đến ngã ba Trung Hà là 500 cây số lượn rồng rắn và tính toàn thân sông Đà thì chiều dài là 883000 thước mét chảy qua hai nước Việt – Trung.

Nhà văn còn cung cấp thông tin, thời cũ, tên con sông được dùng làm tên đạo tên lộ. Trong số 15 lộ hành chính đời Trần có Đà Giang lộ gồm những đất đai từ Hưng Hóa ngược lên. Với thông tin ấy, Nguyễn Tuân đặt sông Đà tương quan với chiều dài lịch sử. Không còn là con sông vô tri, sông Đà như một công dân dũng cảm từng chứng kiến mọi thăng trầm của lịch sử con người Tây Bắc. Với việc vận dụng sáng tạo tri thức của ngành địa chất, khảo cổ học. Nguyễn Tuân đã đem tới những hiểu biết sinh động, lí thú về lai lịch của con sông Đà.

Không còn là dòng sông vô tri của thế giới tự nhiên, sông Đà trở thành sinh thể sống có hồn, có cá tính phức tạp. Nguyễn Tuân khẳng định, sông Đà như một cố nhân “ lắm bệnh, lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy”. Quả vậy, sông Đà trong cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Tuân là hình tượng nghệ thuật nổi bật với hai tính cách: hung bạo và trữ tình.

Nói về tính cách hung bạo. Sông Đà có những quãng hẹp. Hai bờ đá dựng đứng vách thành tạo nên những khoảng sâu, tối và lạnh. Nhà văn viết “ có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”, “ ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.  Hình ảnh so sánh, liên tưởng bất ngờ đã làm nổi bật sự hiểm trở của bờ sông Đà. Có thể nói, cảnh bờ sông Đà ở thượng nguồn toàn những quần thể đá lô xô nhấp nhô, đá tiếp đá, chất chồng lên nhau đã phần nào cho thấy tính chất hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của con sông này.

Sông Đà có nhiều mặt ghềnh nguy hiểm, tiêu biểu là mặt ghềnh Hát Loong “dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”. Sự lặp lại theo hình thức vắt nối của ngôn từ kết hợp với cấu trúc câu trùng điệp có tác dụng lột tả sự tiếp nối liên tiếp của các hiện tượng thiên nhiên dữ dội diễn ra trên mặt ghềnh Hát Loong.

Sông Đà có những cái hút nước khủng khiếp, chết người “trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm cái móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống về sặc”. Nhà văn còn chạm tới cái hút nước một lần nữa “những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như rót dầu sôi vào”. Ví cái hút nước giống như cái giếng bê tông, hình ảnh so sánh này thật ấn tượng. Hon thế, “hai chữ “ặc ặc” mô phỏng rất tài thứ âm thanh quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại” (Nguyễn Quang Trung).

Nhà văn tiếp tục gây áp lực liên hệ thần kinh người đọc bằng cách bắt họ phải tự “chiêm nghiệm” cái cảm giác lạ lùng này. Nguyễn Tuân tưởng tượng một nhà quay phim táo tợn nào đó đã “dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà”. Từ đáy cái hút nước, nhà quay phim lia ngược ống kính lên quay cảnh cả khối nước như “khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem”. Ở chi tiết nghệ thuật này, Nguyễn Tuân đã vận dụng sáng tạo ngôn ngữ điện ảnh để đặc tả cái hút nước chết người của sông Đà.

Sông Đà có 73 thác nước, trong đó có nhiều thác dữ dội. Cảnh thác dữ được nhà văn miêu tả từ xa đến gần, bằng cả hình ảnh thị giác và thính giác. Ở xa, “còn xa lắm mới đến cái thác dưới” nhưng đã thấy “tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên”. Âm thanh của nước thác được miêu tả rất sinh động “tiếng nước thác nghe như là oán trách, rồi lại như van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Với ngôn ngữ dồi dào, sắc bén, kết hợp với biện pháp nhân hóa, nhà vă đặc tả tiếng gầm réo của thác nước từ xa như tiếng của con người với đủ cung bậc, sắc thái tình cảm. Lúc này, sự dữ dội của thác nước được cảm nhận bằng giác quan thính giác.

Đến gần, thác nước “rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nửa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đà trâu da cháy bùng bùng”. Đúng là một cảnh tượng man rợ như thời tiền sử. Đây là hình ảnh so sánh, liên tưởng mới lạ, độc đáo của Nguyễn Tuân. Bình vè chi tiết nghệ thuật này, tác giả Nguyễn Quang Trung có viết: “Liên tưởng của Nguyên Tuân rất lạ: âm thanh thác được động vật hóa thành tiếng gầm “trâu mộng” nhưng cao tay nhất là lúc thác (thủy) so sánh với lửa (hỏa) gây một bất ngờ thẩm mĩ. Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử”.

Sông Đà bày thạch trận chặn đứng, tiêu diệt con người. Con sông lúc này giăng ra ba trùng vi với nhiều cửa tử, ít cửa sinh. Ở trùng vi thứ nhất, sông Đà giăng ra năm cửa trận, trong đó bốn cửa tử chỉ một cửa sinh và “cửa sinh nằm lấp lờ phía tả ngạn sông”. Sang trùng vi thứ hai, con sông “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào và cửa sinh lại bố trí qua phía bờ hữu ngạn”. Đến trùng vi thứ ba, “bên phải bến trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay bọn đá hậu vệ của con thác”.

Theo cách viết của nhà văn, chúng ta thấy sông Đà lúc này như một loại thủy quái khổng lồ, lắm mưu nhiều kế, bày ra bao mẹo lược xảo quyệt để sẵn sàng nhấn chìm con thuyền, giết chết con người. Như một dũng tướng hiếu chiến, Đà giang “đã giao việc cho mỗi hòn đá” có mặt ở đây. Khi thì đá ẩn nấp, mai phục để vồ lấy thuyền, lúc lại vừa miếng đánh du kích, đánh đòn tỉa, đòn âm. Khi thì quay vòng đán quật trở lại theo lối v hồi, lúc lại liều mạng, xông xáo đánh tới tấp tứ phía “vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Miêu tả sông Đà bày thạch trận, nhà văn sử dụng linh hoạt tri thức của ngành võ thuật, quân sự. Ở góc độ ngôn từ, Nguyễn Tuân sử dụng dày đặc những động từ mạnh.

Đọc thêm  Phân tích bài "Phong cách Hồ Chí Minh" của Lê Anh Trà

Tiểu kết, bằng thủ pháp nhân hóa, so sánh, liên tưởng độc đáo, nghệ thuật miêu tả sông Đà có diện mạo và tâm địa vô cùng nham hiểm, xảo quyệt. ở phương diện hung bạo, Đà giang là “kẻ thù số một của con người”.

Ở thượng nguồn, sông Đà hung bạo, chết người là thế nhưng ở phía hạ lưu, sông Đà hiện ra trong cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Tuân thật trữ tình. Vẻ đẹp trữ tình của con sông Đà được nhà văn tập trung khắc họa trên hai diện. Thứ nhất, Đà giang thơ mộng. Được nhìn từ trên cao, sông Đà được ví như một người đàn bà kiều diễm “Con sông Đà … núi Mèo đốt nương xuân”. Với hình ảnh so sánh mới lạ, giàu giá trị thẩm mĩ, với câu văn mềm mại, trữ tình, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật vẻ đẹp thơ mộng của con sông. Không còn là dòng sông vô tri của thế giới tự nhiên, Đà giang lúc này đẹp vẻ đẹp rạng ngời của một “tiên nữ giáng trần” (Nguyễn Quang Trung). Vẻ đẹp thi vị của sông Đà tiếp tục được nhà văn khắc họa qua hình ảnh nước sông thay đổi theo mùa. Tác giả viết: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”. Sử dụng sáng tạo ngôn ngữ hội họa, nhà văn miêu tả con sông thật thi vị biết chừng nào. Với màu xanh ngọc bích mỗi độ xuân về, màu lừ lừ chín đỏ khi thu tới, Nguyễn Tuân tự tin khẳng định “Chưa hề bao giờ tôi thấy sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà chết lên bản đồ lai chữ”. Gián tiếp qua ý văn này, độc giả cảm nhận đợc ttinhf yêu quê  hương tha thiết của Nguyễn Tuân. Thoai thoải triền sông phía hạ lưu là hình ảnh những nương ngô tươi tốt, là hình ảnh những đồi cỏ gianh đang trổ những búp nõn tươi non. Còn nữa, ấy là những hình ảnh đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm, rồ hình ảnh những đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông hụng trắng như bạc rơi thoi. Quả thực, những chi tiết nghệ thuật này đã nối kết, cộng hưởng với nhau để làm nổi bật vẻ đẹp bình dị mà thi vị của sông Đà.

Thứ hai, Đà giang hiền hòa. Phía hạ lưu, dòng sông chảy trôi hiền hòa. Nhà văn miêu tả “Cảnh ven sông…lặng tờ đến thế mà thôi”. Chưa hết, nhà văn còn viết “Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”. Đối sánh sông Đà lúc này với khi nó chảy ở thượng nguồn ào ào thác lũ, độc giả chợt thấy quý biết bao điệu chảy hiền hòa, lững lờ của con sông. Ngắm con sông Đà hiền hòa ở phía hạ lưu, bất giác bạn đọc nhớ đến hình ảnh sông Hương giữa lòng kinh thành Huế. Gợi tả vẻ đẹp thơ mộng và hiền hòa của sông Đà, tác giả muốn khắc sâu tính cách trữ tình của con sông. Vowis vẻ đẹp trữ tình, sông Đà lại trở thành “người cố nhân”. Và để gợi tả vẻ đẹp này của con sông, tác giả sử dụng nhiều tính từ, đặc biệt là các hình ảnh so sánh gợi cảm, độc đáo.

Sông Đà là hình tượng nghệ thuật độc đáo trong ngòi bút Nguyễn Tuân. Trong cảm quan nghệ thuật của nhà văn, sông Đà dữ dội, hung bạo nhưng cũng thật thơ mộng, hiền hòa. Hung bạo mà trữ tình, dữ dội mà hiền hòa, hai nét tính cách tưởng như trái ngược, mâu thuẫn ấy thực ra đã hợp nhất với nhau để làm nên vẻ đẹp hoàn thiện của sông Đà.

Phân tích hình ảnh con sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà

Phân tích hình ảnh con sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà

Phân tích hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân – bài số 2:

Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách độc đáo, tài hoa và có hiểu biết về nhiều lĩnh vực và có vốn ngôn ngữ giàu có, điêu luyện, là bậc thầy ngôn ngữ trong nền văn học nên ông được đánh giá là 1 trong số những nhà văn có ảnh hưởng lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Thể loại văn học thành công nhất của ông là bút kí và tùy bút với một số tác phẩm tiêu biểu như “Vang bóng một thời”, “Một chuyến đi”, “Thiếu quê hương”. “Chiếc lư đồng mắt cua”…nhưng trong số đó nổi tiếng nhất là tùy bút “Người lái đò sông Đà” được in trong tập “sông Đà”, tùy bút này là một áng văn đẹp được kết nên từ tình yêu quê hương đất nước tha thiết, say đắm để ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc cũng như “chất vàng mười” của con người nơi đây. Xuyên suốt tác phẩm là hình tượng con sông Đà vừa dữ dội hiểm trở nhưng cũng không kém phần thơ mộng, trữ tình.

Dưới ngòi bút miêu tả tài tình của Nguyễn Tuân con sông Đà hiện lên với 2 vẻ đẹp đối lập nhau, con sông Đà có lúc dữ dằn “hung bạo” nhưng chốc lại dịu dàng thơ mộng, hùng vĩ. Phải có con mắt quan sát tỉ mỉ và tâm hồn tinh tế, khéo léo lắm thì tác giả Nguyễn Tuân mới cảm nhận hết được vẻ đẹp của con sông cũng như quá trình chuyển đổi phức tạp ấy. Ngay từ đầu đoạn trích, con sông Đà hiện lên với vẻ hung bạo, dữ dằn, nhiều thác ghềnh và hiểm trở, vẻ đẹp hùng vĩ của con sông Đà không chỉ có nhiều thác đá mà nó còn là những cảnh đá ở 2 bên bờ sông, đá dựng vách thành và những bức thành đá cao thành chẹt lấy lòng sông hẹp như một cái yết hầu. Với cách so sánh rất độc đáo, mới lạ nhưng cũng rất lạ lùng khi đem cái “yết hầu” của con người ra để ví von với những bức thành đá cao lớn ép chặt lấy lòng sông Đà. Cái hẹp của lòng sông Đà được tác giả mô tả hẹp theo đủ cách khác nhau nào là chỉ và đúng lúc “ngọ” giữa buổi trưa, khi mặt trời lên cao nhất và chiếu thẳng xuống lòng sông thì lòng sông mới nhận được chút tia nắng ấm áp ít ỏi và khi thời gian trôi đi thì những tia nắng ấy cũng dần biến mất, hay là chỉ cần đứng từ bên bờ bên này nhẹ tay ném một hòn đá nhỏ cũng có thể qua đến vách đá bên kia bờ sông, hơn nữa có quãng hẹp đến nỗi con nai con hổ cũng có lần đã vọt từ bên bờ bên này sang được bờ sông bên kia, hay mùa hè ngồi trong khoang đò đi qua quãng sông ấy mà cũng cảm thấy mát lạnh, thấy mình như đứng ở một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ của một tòa nhà cao tầng nào đó. Bằng việc so sánh vừa chính xác, tinh tế, vừa bất ngờ lạ lùng tác giả Nguyễn Tuân như đã lục lọi hết cả kho từ ngữ phong phú của mình để tìm ra được những ngôn từ đắt giá nhất có thể làm kinh động đến hồn trí người đọc khi miêu tả những vách đá bên bờ sông Đà.

Đọc thêm  Phân tích bài “Ôn dịch, thuốc lá” trong tác phẩm “Từ thuốc lá đến ma túy- bệnh nghiện”- Nguyễn Khắc Viện

Con sông Đà không chỉ có những vách đá dựng đứng mà ở quãng Hát Loong còn có hàng dài cây số nước và đá, nước xô đá, đá xô sóng, sóng lại xô gió như một vòng tuần hoàn tự nhiên của con sông cứ lặp đi lặp lại và dòng nước lúc nào cũng cuồn cuộn chảy xiết với những luồng gió gùn ghè quanh năm như đòi nợ bất kì một người nào đi qua nó, bằng lối viết rất văn hoa, cấu trúc câu trùng điệp gợi lên hình ảnh một con sông Đà lúc nào cũng cuồng nộ, dữ dằn như lúc nào cũng muốn nuốt chửng bất kì con thuyền xấu số nào rơi vào trận địa mà nó đã bày sẵn.

Đến quãng Tà Mường, ta lại bắt gặp “những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”, trên bề mặt cái hút ấy lúc nào cũng xoáy tít xuống tận đáy và quay lừ lừ chỉ chẹc có con thuyền nào đi qua là “lôi tuột” ngay xuống đáy sông và đánh chúng tan xác ngay lập tức, hay âm thanh của tiếng nước kêu và thở ừng ực như cái cống bị sặc. Với lối so sánh độc đáo, sử dung những từ ngữ miêu tả rất chân thực sống động khiến con sông Đà hiện lên như một loài thủy quái luôn gầm gừ đe dọa với những âm thanh ghê rợn có thể khủng bố tinh thần bất cứ ai và uy hiếp con người.

Không chỉ miêu tả hình ảnh những vách đá dựng đứng, những cái hút nước sâu hút hay hơi thở ừng ực của dòng nước cuồn cuộn, con sông Đà còn phối hợp hài hòa với âm thanh réo rắt của những thác nước, Nguyễn Tuân như một nhạc trưởng đang đắm mình điều khiển giàn nhạc giao hưởng hùng tráng của sông Đà với bài ca của sóng hòa âm với tiếng gió xô nước lên những vách đá. Tiếng thác nước réo rắt nghe như ai oán, oán trách điều gì, rồi lại van xin, khiêu khích hay gằn mình lên chế nhạo, thế rồi âm thanh được phóng đại lên bất ngờ như bừng lên cơn thịnh nộ đỉnh điêm và “rống lên như hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu tre nứa nổ lửa và rừng lửa cũng gầm thét lên với nó”,  tác giả Nguyễn Tuân đã miêu tả âm thanh của thác nước như một trận đánh kịch liệt, dữ dội của tự nhiên.

Khi đến cái thác với sóng bọt trắng xóa cả một chân trời, và xung quanh đó là một trận địa đá bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, tác giả như thổi hồn vào từng hòn đá khiến chúng trở nên chân thực và sống động. Trận địa đá với kích cỡ đa dạng từ to đến nhỏ ấy đã “mai phục” ở lòng sông từ ngàn năm trước rồi , có hòn thì “nhổm cả dậy” khi có chiếc thuyền nào đó nhô vào đường ngoặt của sông hay mặt hòn đá nào ở đây cũng trông “ngỗ ngược” như một đứa trẻ bướng bỉnh hay “nhăn nhúm méo mó” hơn cả mặt nước cuộn sóng, những hòn đá muôn hình vạn trạng có hòn “đứng” có hòn “nằm” hay “ngồi” tùy vào sở thích riêng của chúng. Qua ngòi bút miêu tả tài tình của tác giả thì những hòn đá vô tri vô giác ấy như được thổi hồn vào một cách chân thực sống động khiến chúng giống như những tên du côn hung dữ của thiên nhiên hoang dại. Những “tên du côn” ấy còn hống hách bày thạch trận trên lòng sông để giăng bẫy mọi thứ đi qua con sông này, ở thạch trận thứ nhất bày ra năm cửa trận thì có đến 4 cửa tử và chỉ duy nhất 1 của sinh ở giữa, bọn đá đứa thì hất hàm đứa thì thách thức trêu ngươi, đến cả mặt nước cũng hùa vào với bọn đá ùa vào bẻ gãy cán chèo, sóng nước đá trái thúc gối vào bụng thuyền và hông thuyền. Thạch trận thứ hai với sông nước cũng bài binh bố trận ở khắp nơi trên lòng sông, tăng nhiều cửa dinh cửa tử ở phía hữu ngạn con sông, còn thạch trận thứ ba thì trái phải đều là luồng chết, duy chỉ có luồng sống ở ngay chính giữa. Qua đó, ta thấy con sông Đà hung bạo hống hách như một loài thủy quái hết bày thạch trận lại đến thủy trận nhằm uy hiếp, nuốt chửng những con thuyền trên lòng sông, nó như là “kẻ thù số 1” của con người nơi vùng Tây Bắc hùng vĩ, nhờ vậy mà có thể tôn vinh tài năng nghệ thuật tài hoa của tác giả với cách sử dụng từ ngữ điêu luyện, độc đáo.

Hình ảnh con sông Đà hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân không chỉ mang vẻ “hung bạo, dữ dằn” mà còn ẩn chứa nét thơ mộng, trữ tình. Dòng sông Đà không chỉ có những vách đá dựng đứng, những cái giếng hút sâu hoắm hay những trận thạch bàn nguy hiểm mà còn là bức tranh thủy mặc vấn vương lòng người. Từ trên tàu bay nhìn xuống, dòng sông Đà như cái sợi dây thừng ngoằn ngoèo không còn nét dữ tợn hung bạo nữa mà thay vào đó nó tuôn dài như một áng tóc trữ tình, cả đầu tóc và chân tóc như đang thoắt ẩn thoắt hiện trong làn mây trời xanh thẳm rợp trời sắc trắng của hoa ban hay sắc đỏ của hoa gạo và cuồn cuộn mù lên những làn khói của những người đốt nương xuân chuẩn bị canh tác. Như có một người vô hình điều khiển mà dòng nước sông Đà thay đổi theo mùa, vào mùa xuân là sắc nước màu xanh ngọc bích, có lẽ sức sống xanh mơn mởn của cây cỏ mùa xuân đã nhuộm cho dòng sông màu ngọc bích đẹp đến nao lòng như vậy. Nhưng mùa hạ qua đi khi mùa thu đến dòng sông như cởi bỏ lớp áo cũ để khoác lên mình chiếc áo màu lừ lừ chín đỏ như da mặt một người say rượu hay giận dữ việc gì đó. Cứ mỗi mùa qua đi dòng sông Đà như được thay da đổi thịt, mỗi mùa nó mang một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp quyến rũ tình tứ, thơ mộng đến xao xuyến lòng người. Nguyễn Tuân nhìn con sông Đà như một người cố nhân đã lâu không gặp lại, tác giả say mê đến mức như sắp đổ ra sông Đà, nó mang vẻ gợi cảm nhưng trong con mắt mỗi người nó lại được cảm nhận theo cách khác nhau. Cảnh ven 2 bên bờ sông lặng như tờ nhưng lại mộng mơ, quen thuộc với những nương ngô mới nhú lên xanh mướt, bãi cỏ gianh góc kia đang nhú lên những búp xanh mơn mởn hay những chú hươu cái cúi đầu bứt những búp cỏ xanh non vẫn còn đẫm sương mai rồi ngẩng đầu lên khỏi những áng cỏ sương, bờ sông mang vẻ đẹp hoang dại của một bờ tiền sử cổ kính, hay hồn nhiên như một câu chuyện cổ tích xa xưa. Bức tranh thơ mộng về sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả một cách tỉ mỉ, tinh tế bức tranh ấy có màu sắc, hình ảnh hiện lên với nét hoang sơ nguyên thủy chưa có đôi bàn tay con người tác động.

Bằng cả tâm hồn yêu thiên nhiên, quê hương đất nước say đắm, thiết tha và lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu vẻ đẹp của một dòng sông nơi Tây Bắc của tổ quốc, tác giả Nguyễn Tuân đã mang cho người đọc hình dung ra được hình ảnh con sông Đà vừa mang vẻ “hung bạo, dữ dằn” nhưng cũng không kém phần “thơ mộng, trữ tình” cùng hình ảnh giản dị của những người lao động bình dị ở vùng Tây Bắc. Bằng tài năng và việc sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, tác giả Nguyễn Tuân đã viết nên tùy bút “Sông Đà” và khắc họa thành công hình tượng con sông Đà cũng như “chất vàng mười” của những người dân lao động bình dị, tác phẩm xứng đáng là một tuyệt tác của của một tài năng nghệ thuật độc đáo những không kém phần tinh tế.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *