Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi

Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi là vị anh hùng toàn đức toàn tài hiếm có trong nền văn học Việt Nam. Ông để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đồ sộ, với nhiều tác phẩm nổi tiếng. Chỉ với trích đoạn nước “Nước Đại Việt ta” độc giả phần nào cảm nhận được tài năng nghệ thuật của Nguyễn Trãi.

“Nước Đại Việt ta”  là đoạn trích thuộc phần đầu của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”, được công bố vào ngày 17/1/1428 trong không khí hào hùng của ngày vui đai thắng, đất nước sạch bóng quân thù, mở ra một kỉ nguyên thanh bình, độc lập. Đoạn trích gồm hai nội dung chính đó là tư tưởng nhân nghĩa và chân lí chủ quyền độc lập của dân tộc.

Hai câu đầu tác giả viết:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Vậy “nhân nghĩa” được hiểu như thế nào? “Nhân nghĩa” là khái niệm đạo đức của Nho gia được hiểu chung là lòng thương người, là đạo lý, lí lẽ cần phải làm trong quan hệ giữa người với người. Chữ nhân có nội dung rất rộng nhưng cốt lõi “nhân” là lòng thương người, là sự tương thân, tương ái, giữa người với người. Đối với vua chúa, “nhân” là trọng dân, đối với dân phải khoan hòa, nhân ái, không được thực hiện chính sách hà khắc, bạo ngược với dân. “Nghĩa” là điều phải nên làm.

Đặt trong hoàn cảnh Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo” thì “dân” ở đây chỉ nhân dân Đại Việt. “Bạo” là giặc Minh xâm lược, “quân điếu phạt” chính là nghĩa quân Lam Sơn thương dân đánh kẻ có tội. Tác giả nhắc đến tư tưởng nhân nghĩa, yêu thương con người làm theo lẽ phải, nhưng tiến bộ là ở tư tưởng, cốt lõi nhân nghĩa phải là yên dân. Hình ảnh đội quân điếu phạt đó là vì thương dân nên trừng phạt kẻ có tội, những kẻ bạo ngược, đàn áp nhân dân.

Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi

Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi

Như vậy tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã được mở rộng, không chỉ là quan hệ giữa người với người mà còn là quan hệ giữa dân tộc với dân tộc, quốc gia với quốc gia. Đây là nội dung mới trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi: nhân nghĩa là yên dân – trừ bạo – yêu nước – chống xâm lược – bảo vệ đất nước và nhân dân. Tư tưởng đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Đọc thêm  Phân tích bài Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp

Ở tám câu tiếp, tác giả khẳng định chân lý về chủ quyền dân tộc:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có.”

Khi nhân nghĩa gắn liền với yêu nước chống giặc ngoại xâm thì bảo về nền độc lập của đất nước cũng là việc làm nhân nghĩa. Vì thế, sau khi nêu lên tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi đã khẳng định sự tồn tại độc lập có chủ quyền của của dân tộc đại Việt.

Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, tác giả dựa vào những yếu tố: Nền văn hiến từ lâu đời: nền văn hiến đã lâu; Phong tục tập quán; Lịch sử hình thành và phát triển riêng; Chế độ nhà nước riêng, bình đẳng, ngang tầm với các triều đại Trung Quốc. Từ đời Triệu, Đinh, Lý, Trần sánh ngang hàng với Hán, Đường, Tống, Nguyên. Ở giai đoạn trước, bài thơ Sông núi nước Nam của tác giả Lý Thường Kiệt đề cập tới sự độc lập lãnh thổ và chủ quyền nước Nam- vua Nam ở. Tới Bình Ngô Đại cáo Nguyễn Trãi vẫn khẳng định về lãnh thổ, chủ quyền. Có mở rộng, khẳng định nền văn hiến lâu đời, phong tục, lịch sử triều đại. Nguyễn Trãi đã dùng thể  văn biền ngẫu giúp cho việc diễn giải ý thơ được chi tiết và kỹ càng hơn. Đồng thời, Nguyễn Trãi sử dụng biện pháp tu từ so sánh ta với Trung Quốc về trình độ chính trị, tổ chức chế độ, quản lí quốc gia và khẳng định: Đại Việt là một nước độc lập có lãnh thổ riêng có phong tục tập quán riêng, có lịch sử riêng, có hoàng đế riêng, cùng sánh vai với các triều đại phương Bắc. Từ đó, hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc.

Đọc thêm  Phân tích bài Đức tính giản dị của Bác Hồ

Để khiến lập luận thêm thuyết phục, Nguyễn Trai đưa ra những bằng chứng cụ thể:

“Lưu Cung tham công nên thất bại,

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,

Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xét,

Chứng cớ còn ghi.”

Câu văn biền ngẫu, hai vế sóng đôi, đối xứng tạo nên sự cân đối nhịp nhàng, giọng văn sang sảng niềm tự hào về truyền thống đấu tranh vẻ vang của dân tộc. Nổi bật lên sự thất bại thảm hại của kẻ thù và ca ngợi chiến thắng hào hùng của ta. Khẳng định sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và chủ quyền độc lập của dân tộc.

Tất nhiên là để làm nên những chiến thắng vẻ vang đó còn nhờ tinh thần xả thân vì đất nước của bao con dân Đại Việt với ý chí: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”. Đó là những lời văn sang sảng niềm tự hào của một dân tộc sáng ngời chính nghĩa.

Đoạn văn khép lại bằng hai câu: “Việc xưa xem xét / Chứng cớ còn ghi”, Nguyễn Trãi muốn biến lời nói của mình thành lời của người chép sử, biến cái chủ quan thành khách quan, biến một hiện tượng cá biệt thành quy luật muôn đời để mọi tính toán của con người hãy soi mình vào đó. Bề nổi của lời văn là nghiêm khắc răn đe, còn chiều sâu thấm thía một đạo lí, một tư tưởng, một lẽ phải làm người. Đó là tư tưởng nhân nghĩa.

Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” đã thể hiện tinh thần yêu nước thông qua ngọn cờ nhân nghĩa của dân tộc. Dù phải trả bao nhiêu máu xương, dân tộc ta quyết giành độc lập chủ quyền.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *