5 bài Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính hay nhất

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài số 1:

Trường Sơn là nơi đã lưu dấu của biết bao người lính vì nước vì dân trong mưa bom lửa đạn. Biết bao bài thơ, bài hát được sáng tác để tưởng nhớ về một thời bom lửa nơi đây. Một trong số đó ta phải kể đến “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật.

Bài thơ tạo ấn tượng với độc giả ngay từ cái tiêu đề.Thông thường, nhan đề bài thơ thường ngắn gọn, súc tích, hàm chứa ý nghĩa nội dung toàn bài thơ. Nhưng ở đây, nhà thơ Phạm Tiến Duật lại đặt ra một nhan đề dài, hiện lên một hiện thực khắc nghiệt trong chiến tranh. Tuy dài, nhưng không có từ nào trong nhan đề có thể lược bỏ được. Từng từ từng chữ thể hiện rõ chủ đề của tác phẩm. Bởi vậy, nó đã làm nên nét độc đáo trong thơ của ông.

Nổi bật trong bài thơ là một hiện thực trần trụi:

“Không có kính không phải vì xe không có kính”

Ba chữ “không” trong cùng một câu thơ để khẳng định về một sự thật:

“Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Sự ác liệt của bom đạn chiến tranh đã làm cho chiếc xe không còn nguyên vẹn. Nhưng điều đõ không làm cho tay lái của người chiến sĩ trở nên thiếu vừng vàng:

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn  trời, nhìn thẳng.”

Trước mặt người lính lái xe, mọi thứ trở nên chân thực hơn bao giờ hết:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái.

Mặc kệ những thiếu thốn, người lính vẫn nhìn cảnh vật thiên nhiên bằng con mắt của một thanh niên trẻ nhiệt huyết và yêu đời. Gian khổ là vậy, nhưng người lính vãn vượt lên:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già.

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Câu thơ như lời nói cười đùa của những người lính trong chuyến xe mà cũng đậm chất ngang tàng, như thể thách thức mọi gian khó.

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm”

Định nghĩa về gia đình cũng trở nên mới lạ. Cuộc sống cùng những khó khăn về vật chất, người chiến sĩ cũng hiếu thốn những tình cảm ruột thịt. Tất cả mọi người dẫu từ nhiều phương trời khác nhau, nhưng cùng chung chí hướng, nên tự lúc nào đã coi nhau là anh em. Tình đồng chí, tình an hem thấm đượm đất trời xanh, mang cho họ những niềm vui phơi phới, niềm tim ngày giải phóng. Bởi vậy:

“Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

Lần lượt, những thiếu thốn được nhà thơ liệt kê. Giọng thơ khí khái, ngang tàng. Những gian khổ không thể nào kể hết, nhưng người lính vẫn mang trong mình một niềm tin bất diệt. Trái tim ấy là trái tim người lính, là sứ mệnh vinh quang của tuổi trẻ tiếp nối các thế hệ cha anh đang trên đường ra trận.

“Bài thơ về tiêu đội xe không kính” thể hiện nổi bật tinh thần tự tin, tươi trẻ của lớp lớp thanh niên Việt Nam trên tuyến đường Trường Sơn một thời oanh liệt. Nó đã góp phần thể hiện vị trí và khẳng định phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật trong thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài số 2:

Khi phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơn về cuộc sống của người lính với nhiều khó khăn gian khổ. Tuy vậy họ vẫn luôn lạc quan, yêu đời và cống hiến hết sức mình cho cách mạng và tuổi trẻ. Qua đó, thế hệ sau này càng thêm hiểu và biết ơn những người lính đã hi sinh tuổi xuân để bảo vệ nền độc lập chủ quyền của đất nước.

Trong suốt những tháng năm kháng chiến, ngòi bút của Phạm Tiến Duật đã cùng sống và chiến đấu với với nhân dân chống lại đế quốc Mĩ. Hầu hết các sáng tác của ông đều sử dụng ngôn từ trẻ trung, sôi nổi, gần gũi và giàu ý nghĩa. Ấn tượng trong đó là Bài thơ về tiểu đội xe không kính, một tác phẩm tiêu biểu viết về cuộc sống của người lính trong chiến tranh.

Mở đầu bài thơ là một hình ảnh hết sức độc đáo: xe không kính, giải thích lý do của hiện tượng này tác giả nói về hậu quả chiến tranh, là do bom đạn đã gây ra nhiều tổn thất. Những ngôn từ được sử dụng một cách dí dỏm, nhịp điệu tự nhiên, mộc mạc phác họa thành công một đoàn xe tuy đông nhưng thiếu thốn đủ thứ: “Không có kính rồi xe không có đèn. Không có mui xe, thùng xe có xước”. Tất cả các bộ phận đều không còn nguyên vẹn nhưng nó cũng không làm vơi đi lòng nhiệt huyết và sức mạnh tuổi trẻ của tiểu đội.

Dù tất cả xe cộ phương tiện đều bị biến dạng, phá hủy, khó khăn chồng chất, nguy hiểm rình rập nhưng những nỗi vất vả khó khăn này không làm ảnh hưởng đến tinh thần và phong thái chiến đấu, vẫn “ung dung buồng lái ta ngồi”. Hình ảnh người chiến sĩ được phác họa một cách tự nhiên, sôi động, lạc quan và tin tưởng vào tương lai, luôn nhìn lên phía trước.

Nhịp thơ những câu này ngắn, nhanh khi kể về khó khăn trùng điệp nhưng lại dãn ra khi nói về sự vui vẻ của cuộc sống và những hình ảnh bên đường, sự kiện trải qua. Trên xe những người lính thấy gió, thấy con đường chạy vào tim, thấy sao trời, thấy cánh chim. Một loạt những sự việc như là lời tâm tình của tác giả, người lính đang hòa nhập vào với thiên nhiên chứ không còn là đang sống trong cảnh màn trời chiếu đất nữa.

Ở những câu thơ sau nỗi khó khăn vất vả vì xe không có kính được tác giả kể lại một cách dí dỏm: ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo. Vì lý do đó cho nên những người lính lại hiện lên qua những dòng thơ: Bụi phun tóc trắng, mưa tuôn mưa xối. Tuy khó khăn là thế nhưng niềm vui và thái độ lạc quan thì không bao giờ mất đi, người lính vẫn phì phèo châm điếu thuốc, rồi thì cười ha ha, rồi thì lái trăm cây số nữa rồi thì gió lùa mau khô. Phải chăng đây chính là phẩm chất lạc quan yêu đời của người lính khi xưa?

Giọng thơ rộn rã, đầy sức sống của tuổi mười tám, đôi mươi miêu tả những người lính trẻ kiên cường, gắn bó keo sơn, gác lại cuộc sống quê nhà để lên đường nhập ngũ. Người lái xe tụ họp lại đây chung vui niềm vui của những người đồng chí cùng lý tưởng và cảnh ngộ, để rồi họ bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.

Sự thân thiết và tình cảm gắn bó đến nỗi họ coi nhau như những người anh em, như gia đình: “Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Dù trải qua bao hi sinh vất vả thì đến cuối cùng trái tim tuổi trẻ vẫn luôn hướng về quê hương đất nước, hướng về miền Nam với một trái tim nồng ấm và đầy nhiệt huyết: “Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

Khi phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính chúng ta hiểu được lòng yêu nước nồng nàn của người dân Việt Nam, dù có trải qua bao khó khăn vất vả thì vẫn một lòng vì Tổ Quốc thân yêu. Lời thơ tuy nhẹ nhàng nhưng lại khẳng định một cách chắc nịch và ngắn gọn: ý chí kiên cường và tinh thần lạc quan có thể giúp vượt qua mọi khó khăn thử thách.

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài số 3:

Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một bài thơ về đề tài người lính khá đặc sắc của Phạm Tiến Duật. Bài thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật đặc sắc. Nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ lái xe hiên ngang, ung dung, tự tại. Những chiếc xe rất hiện thực được đưa vào bài thơ một cách giản dị.

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi.

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.

Đọc khổ thơ đầu chúng ta có cảm giác như đang ngồi nghe lời thanh minh của các anh lính lái xe. Cấu trúc câu thơ dưới hình thức hỏi đáp. Người lính vẫn hiên ngang trên chiếc xe không có kính mà không một chút mặc cảm. Tuy vẫn lái xe băng băng xong thiếu đi phương tiện vật chất tối thiểu lại là cơ sở để người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp và sức mạnh tinh thần. Xe không kính biểu hiện thách thức sự tàn phá hủy diệt. Nhưng không sự tàn phá nào nay chuyển được tinh thần người chiến sĩ lái xe.

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.

Từ láy ung dung được đảo trong lời thơ càng nhấn mạnh tư thế đàng hoàng tự tin của người lái xe. Điệp từ nhìn thể hiện chính xác tư thế người lái xe, hai chữ nhìn thẳng. Nhìn thẳng vào gian khổ hi sinh không run sợ lé tránh giọng thơ nhịp thơ cân xứng mạnh mẽ đĩnh đạc.

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng,

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chìm

Như sa, như ùa vào buồng lái”.

Từ sự có kính vỡ rồi, dẫn đến khó khăn trở ngại cho người lái xe. Gió tạt, gió lùa. Người lái x có cảm giác lạ thường nhìn thấy gió và cũng chỉ có cảm giác mới nhận biết mắt đắng, mắt cay vì gió tạt, gió lùa. Ở đây người chiến sĩ lái xe chẳng thấy con đường hiện thực trước mặt và thấy con đường chạy thẳng vào tim – hình ảnh ẩn dụ để chỉ tình cảm người chiến sĩ lái xe dành cho chiến trường miền Nam. Qua khung cửa xe không kính không chỉ mặt đất mà cả bầu trời với sao trời cánh chim như cũng ùa vào buồng lái. Nhà thơ diễn tả chính xác cảm giác mạnh và đột ngột của người ngồi trong buồng lái, khiến người đọc có thể hình dung rõ ràng những ấn tượng cảm giác ấy như chính mình đang ở trên chiếc xe không kính.

Đọc thêm  Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi

“Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già.

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha!”

Hậu quả do kính vỡ chưa hết cái khổ đáng kể nữa là bụi đường tung bay ” không có kính … cười haha”. Kính chắn gió vỡ nát xe chạy càng nhanh bụi đường càng nhiều mặt mũi lấm lem. Tiếng ừ trong lời thơ vang lên như một thách thức chấp nhận nhưng chủ động của người chiến sĩ lái xe, việc vệ sinh cá nhân không cần thiết chẳng quan trọng lên chưa cần rửa mà việc quân quan trọng hơn khẩn chương hơn họ vẫn bình thản phì phèo châm điếu thuốc, họ gặp nhau cười haha. Giọng cười thông cảm lại có ý nghạo nghễ bất cẩn họ biết biến cái vất vả gian nan thành phút giây thư giãn thoải mái. Đó là nét hồn nhiên của người lính trong kháng chiến chống Mĩ. Khi làm chủ hoàn cảnh luôn có tinh thần lạc quan yêu đời.

“Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay lái trăm cầy số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!”

Vẫn với giọng điệu ngang tàn người lái xe bất chấp mưa bão không có kính gió lùa khô mau thôi. Điệp từ mưa diễn tả những cơn mưa rừng rai rảng cùng các động từ ” tuôn, xối” tới tấp như ngoài trời, đó là thực tế khi xe không còn kính chắn gió phía trước.

Đoạn thơ có cách điệp cấu trúc. Điệp ngữ phủ định biểu hiện rõ thái độ bất cần xem thường những trở ngại khó khăn. Chịu đựng những khó khăn đó bởi vì họ khát vọng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

“… Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”.

Nơi rừng sâu đèo núi chập trùng bom đạn tới tấp nhưng người lái xe vẫn không trùng bước. ” Những chiếc xe…kính vỡ rồi”. Vẫn với giọng điệu hồn nhiên, trẻ trung những ” chiếc xe” là hình ảnh hoán dụ của tiểu đội lái xe. Họ là những chàng trai gan góc dũng cảm. Đi từ trong bom rơi, nơi thần chết trực chờ. Trên đường đi tới chiến trường những lần gặp lại đồng chí đồng đội bao nhiêu nhọc nhằn bỏ lại sau lưng. Hình ảnh những người lính bắt tay nhau qua cửa kính vỡ là một hiện thực. Cũng là một trong kỉ niệm khó quên. Cái bắt tay ấy là sự yêu mến cảm thông đoàn kết trong chiến đấu. Biểu hiện đó trước đây thời chống Pháp trong thơ Chính Hữu.

” Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi, trời xanh thêm”.

Rồi những lúc nghỉ ngơi dưỡng sức người lính quây quần bên mâm cơm dã chiến. Bếp hoàng cầm trời xanh thêm, trong chiến đấu để giữ kín bí mật để che chắn cặp mắt rình rập của kẻ thù bộ đội cụ Hồ sáng tạo bếp ” Hoàng Cầm” họ tụ tập bên nhau dùng chung bát đũa cách ăn uống giản dị sáng tạo thời chiến và gia đình trong chiến khu.

Là gia đình cùng chiến đấu cùng lí tưởng. Cuối đoạn thơ điệp ngữ lại đi gồm thanh bằng diễn tả những vụ lên đường khẩn cấp liên tục hình ảnh bầu trời xanh thêm diễn tả liềm lạc quan yêu đời của người lái xe.

” Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước;

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Làm lên sức mạnh để người lái xe vượt lên khó khăn gian khổ là ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam.

” Không có kính…một trái tim”.

Hai câu đầu miêu tả hiện thực ác liệt của chiến tranh thông qua hình ảnh những chiếc xe không kính. Phép liệt kê, điệp từ nhắc lại nhiều lần tô đậm hoàn cảnh thiếu thốn không khí. Hai lời thơ cuối nghệ thuật tương phản khắc họa hình ảnh người lính lái xe với tư thế hiên ngang bất chấp gian khổ quyết tâm giải phóng miền Nam. Lời thơ cuối bật sáng chủ đề bài thơ, hình ảnh hoán dụ ” trái tim” diễn tả tình yêu nước, lí tưởng chiến đấu cao đẹp vì miền Nam ruột thịt. Tác giả muốn khẳng định tình yêu nước, ý chí quyết tâm của con người sẽ làm lên chiến thắng. Khổ thơ thể hiện chiều sâu triết lí, sức mạnh của con người, dân tộc không phải ở những vũ khí tối tân hiện đại mà ở tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm của con người.

Tóm lại, bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã diễn tả được trực trạng chiến tranh khốc liệt và cũng làm nổi bật lên sự ung dung, lạc quan trong mọi hoàn cảnh chiến đấu khốc liệt. Trong khi họ vận chuyển hàng hóa vào Miền Nam chi viện.

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài số 4:

Những năm tháng chống Mỹ hào hùng của dân tộc đã để lại biết bao hồi ức và những dấu ấn khó phai mờ. Hình ảnh những những cô gái thanh niên xung phong, anh bộ đội cụ Hồ là một trong những hình ảnh đẹp nhất, lãng mạn và anh hùng nhất trong kháng chiến. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” chính là một trong những minh chứng tiêu biểu cho nét tinh nghịch cũng như tinh thần bất khuất, hiên ngang hào hùng của người chiến sĩ.

Với phong cách thơ tự do phóng khoáng, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc, tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật. Đây cũng là bài thơ nằm trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970, Mở đầu bài thơ là một hình ảnh hết sức cụ thể, chân thực và độc đáo:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Chỉ với hai câu thơ như hai nét chấm phá đã khiến cho người đọc hình dung được bức tranh ác liệt, tàn khốc của chiến tranh. Những chiếc xe vốn có kính, đã có kính nhưng vì “bom giật bom rung” cho nên “kính vỡ đi rồi”. Chiến tranh với những mưa bom bão đạn đã tàn phá những chiếc xe, làm cho chúng biến dạng, méo mó khiến cho chúng trở nên khác thường. Kì dị và độc đáo chính là những tính từ miêu tả chính xác cho những chiếc xe như vậy. Và có thể thấy rằng, lời giải thích rất thật thà, đơn giản nhưng lại chứa đựng một hiện thực sâu sắc.

Không có kính, tưởng chừng như thiếu thốn, tưởng chừng như vất vả nhưng ở đây những chiến sĩ lái xe lại không hề bi quan. Họ biến hình ảnh chiếc xe không kính không bình thường thành cái bình thường và biến cái thiếu thốn, khó khăn thành điều thú vị. Chính vì thế mà người đọc bắt gặp ở đây những nét tinh nghịch và lạc quan của người lính:

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời nhìn thẳng

Hai từ “ung dung” đảo lên đầu câu cho thấy tư thế hiên ngang, có thể làm chủ được tay lái, làm chủ được con đường phía trước của người lính lái xe. Không những thế, đại từ “ta” vừa là chỉ người lái xe, vừa là đại diện cho nhiều người, cho một đất nước trong tư thế sẵn sàng chiến đấu để giành lại độc lập, tự do và hòa bình. Với tâm thế này, thì phía trước là trời đất bao la, rộng lớn hay phía trước là những khó khăn vất vả thì người chiến sĩ vẫn tự tin tiến về phía trước, quân dân ta vẫn hùng mạnh bước tới.

Nhìn đất nhìn trời, người lính lái xe còn:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Thật là điều vô lý nhưng lại rất hợp lý, bởi lẽ, xe không có kính, mọi cảnh vật rất tự nhiên và chân thực. Ngay cả gió cũng có thể “nhìn thấy”, Còn sao trời, cánh chim thì “như sa, như ùa vào buồng lại”. Từ “nhìn” cũng không chỉ đơn thuần là thị giác nữa mà đó còn cảm nhận, tình cảm. “Thấy con đường chạy thẳng vào tim”. Có lẽ trong lòng người chiến sỹ đang có một ý chí quyết tâm cao độ nên mới cảm nhận được sự tinh tế cũng như nhận ra những hiểm nguy phía trước, vẫn cố gắng kiên cường để vượt qua. Một không gian bao la, rộng lớn như bao trùm lên phía trước.

Nếu đoạn thơ trên nói đến những hình ảnh đẹp thì đoạn thơ tiếp theo sau lại nói về những vất vả, thiếu thốn của người lính lái xe. Song, dù ở bất kì hoàn cảnh nào thì các anh vẫn luôn nở nụ cười lạc quan, hóm hỉnh đầy chất lính:

Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần rửa, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi

Gió bụi của hiện thực và cũng là những gian khổ, thử thách mà các chiến sĩ lái xe phải vượt qua trên suốt chặng đường ra mặt trận. Qua chặng đường đầy gió bụi, mái tóc xanh của các chàng trai có sự thay đổi đáng sợ: “Bụi phun tóc tắng như người già”. Thế nhưng các anh vẫn rất lạc quan, yêu đời và hóm hỉnh: “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”.

Trời nắng thì bụi. Trời mưa thì ướt sũng “như ngoài trời”. “Mưa tuôn mưa xối” thẳng vào người vì buồng lái đâu có kính che chắn gì nữa. Vậy là trên suốt chặng đường dài, người lính đã phải nếm trải đủ mùi gian khổ: gió bụi, mưa rừng. Mặc dù vượt hết khó khăn này lại tới khó khăn kia nhưng người lính vẫn ngang tàng, phơi phới lạc quan: “Chưa cần rửa, lái trăm cây số nữa/Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi”. Điệp từ “chưa cần” đã cho thấy cái “ngông”, cái bất cần đời của anh lính bộ đội cụ Hồ. Những gió, những bụi chỉ là những cái khó khăn vụn vặt, cho nên các anh chẳng hề quan tâm. Thiên nhiên có khắc nghiệt, chiến tranh có tàn khốc thì cũng không làm chùn bước, ý chí của người lính cách mạng.

Và trong cuộc chiến tranh đầy gian lao, thử thách ấy, tình cảm đồng chí, đồng đội lại càng trở nên gắn bó và gần gũi với nhau hơn:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đọc thêm  Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay nhau qua của kính vỡ rồi

Qua bao bom đạn, từ khắp các ngả đường, những chiếc xe đã cùng về một nơi tụ hội, để kể cho nhau nghe những chặng đường mà mình đã đi qua. Hình ảnh “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” đã cho thấy tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau của các chiến sĩ lái xe. Đó cũng chính là tinh thần của toàn dân ta, cùng nhau vượt qua những khốn khó gian lao để tiến bước đi đến thành công.

Những tình cảm ấy đã làm thành sức mạnh, giúp cho những người lính trở nên mạnh mẽ và lạc quan hơn. Chiến tranh vì thế cũng bớt thảm khốc, bớt ảm đạm hơn.

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Một lần, sự tàn khốc của chiến tranh lại được Phạm Tiến Duật nhắc đến thông qua những chi tiết như xe “không kính, không đèn, không mui, thùng xe có xước”. Nhưng dù chiến tranh có tàn khốc đến máy thì ý chí và sự nỗ lực vì miền Nam vẫn không ngừng nghỉ. Hình ảnh “trái tim” chính là một hình ảnh đẹp. Nó tượng trưng cho lý tưởng chiến thắng, thống nhất nước nhà. Những chiếc xe ngày đêm băng qua mọi nẻo đường, tất cả chỉ nhằm giúp sức cho miền Nam toàn thắng.

Với hình ảnh người chiến sĩ vận tải kiên cường, hùng dũng và đầy lạc quan, hóm hỉnh, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Và cái kết tinh đẹp nhất trong bài thơ ấy chính là tình đồng chí gắn bó và tình yêu Tổ quốc thiêng liêng.

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài số 5:

Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…

Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khỏe, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng. “Bài thơ về tiểu đội không kính” (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió – hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo, mới lạ. Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hóa, tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm Tiến Duật. Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả “anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp” của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948), Phạm Tiến Duật đã ghi nhận, giải thích về “những chiếc xe không kính” thật đơn giản, tự nhiên :

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng : không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước. Hình ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm, trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo, nghệ thuật.

Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ.

Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Đó là những con người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh.

Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hóa, so sánh và điệp ngữ :

Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.

Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh, vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. Các anh nhìn thấy từ “gió”,“con đường” đến cả “sao trời”“cánh chim”. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng.

Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp, tự tin, có tính cách ngang tàng:

Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô, mau thôi.

Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính, tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại “tiếng hát át tiếng bom”, họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm.Câu thơ “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy.

Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính. Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình :

Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

“Trời xanh thêm” vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến.”Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc :

Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra : xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước …

Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom đạn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước. Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình ảnh “trong xe có một trái tim” .

Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, kết đọng ở “trái tim” gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này. Ẩn sau ý nghĩa câu thơ “chỉ cần trong xe có một trái tim” là chân lý của thời đại chúng ta :sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, “con mắt của thơ”, làm bật lên chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ, nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi :

Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí
Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung
Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hóa anh hùng
Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc họa, tôn vinh vẻ đẹp phẩm giá con người, hòa nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 – 1975.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *