Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Thôi Hiệu là nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc. Thơ của Thôi Hiệu đến nay còn truyền lại khoảng hơn bốn mươi bài, một số lượng không nhiều so với các nhà thơ đương thời, song chỉ với tác phẩm Hoàng Hạc Lâu, độc giả đã phần nào cảm nhận được tài năng nghệ thuật của Thôi Hiệu.

Hoàng Hạc Lâu là tên của một di tích nổi tiếng ở phía Tây Nam, huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Nằm trên bờ sông Trường Giang, lầu Hoàng Hạc còn là một danh lam thắng cảnh, sơn thủy hữu tình, nơi mà Lí Bạch đã có cảm hứng viết về cuộc chia tay với cố nhân. Đây cũng là nơi truyền thuyết xưa nói rằng Phí Văn Vi cưỡi hạc vàng lên tiên. Đến thăm lầu Hoàng Hạc, Thôi Hiệu đã nhớ đến huyền thoại xưa,  nuối tiếc điều tốt đẹp đã qua và suy ngẫm về cuộc sống. Nhà thơ đã thổi linh hồn vào lầu Hoàng Hạc, nhắc lại chuyện người xưa để thể hiện một quan niệm nhân sinh sâu sắc.

Bài thơ “Hoàng Hạc lâu” được viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật. Được chia bố cục thành hai phần. Phần thứ nhất, bốn câu đầu, đề cập trực tiếp đến nguồn gốc, tên gọi, và định vị lầu Hoàng Hạc ở phương diện thời gian. Phần thứ hai, bốn câu tiếp, định vị lầu Hoàng Hạc trong không gian, miêu tả thiên nhiên và trực tiếp thể hiện tâm trạng.

Đứng trước một phong cảnh thiên thơ mộng, nhà thơ đã nhớ đến tích xưa, đó là huyền thoại về sự ra đời của lầu Hoàng Hạc, nhà thơ viết:

“ Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu”

Đọc câu thơ, độc giả thấy có sự đối rất chỉnh, đó chính là sự đối lập giữ quá khứ ới hiện tại (tích nhân – thử địa; hoàng hạc khứ – Hoàng Hạc lâu). Với sự đối ngẫu trong một liên này, câu thơ đã truyền tải được tâm trạng của nhân vật trữ tình, đó là sự hụt hẫng – nuối tiếc. Nuối tiếc một điều quý giá đã qua và không bao giời trở lại.

Có nhiều ý kiến cho rằng, bài thơ Hoàng Hạc lâu là thi luật đệ nhất nhưng bốn câu đầu không đúng theo luật. Có người cho rằng đó là phá luật, có người lại cho rằng tự nhiên ra ngoài luật. Thật ra, Lầu Hoàng Hạc là một bài thơ cổ luật điển hình. Cổ luật là thuật ngữ để chỉ những bài thơ có tính chất cổ thi. Ở loại thơ này, số chữ, số câu, cách gieo vần và đối ngẫu giống như luật thơ, nhưng phối thanh lại giống như luật phong, không hoàn toàn hợp luật.

Đọc thêm  Phân tích truyện ngắn "Tôi đi học" của Thanh Tịnh.

Đến hai câu thực, tâm sự nuối tiếc của nhà thơ tiếp tục được nhấn mạnh:

“ Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du”

Tác giả vẫn nói chuyện hạc vàng bay đi không trở lại nhưng ở đây không chỉ có sự đối lập giữa cõi tiên và cõi thực. Hạc vàng đã bay về cõi tiên nên nơi đây, dưới còn trơ lại lầu Hoàng Hac, trên trời mây trắng bay chơi vơi, dường như còn mong chờ tiếc nuối điều gì đó.

Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Với bốn câu thơ đầu, tác giả tập trung tả cảnh và giải thích lầu Hoàng Hạc. Bàn chuyện xưa và nay, thể hiện những tâm tư, suy nghĩ. Đó là những suy nghĩ mang tính triết lý, nhân sinh sâu sắc, triết lí về sự còn – mất về sự hữu hạn và vô hạn của trời đất, nhân sinh. Trong ba câu thơ đầu, tác giả lặp đi lặp lại đến ba lần từ “hoàng hạc”. Hạc vàng là biểu tượng cho những gì quý giá và đẹp đẽ nhưng không trở lại nữa. Việc nhắc lại nhiều lần như vậy làm nổi bật tâm trạng của con người với những điều quý giá đã qua. Câu thơ sử dụng tới 5/7 thanh bằng đã gợi tả rất thành công cảm giác hụt hẫng và tiếc nuối. Thể hiện vẻ ngưng trệ như không muốn trôi đi của những đám mây.

Trong hai câu luận, khung cảnh thiên nhiên được tác giả miêu tả:

“Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu”

Tuy là hai câu luận nhưng lại tả thực và có sự đối ngẫu. Câu thơ mở ra không gian rộng và sáng trong. Một cảnh cõi trần thật đẹp, có ánh nắng soi xuống dòng sông như một tấm gương khổng lồ với hàng cây tươi tốt, soi bóng. Giữa mặt sông sáng trong ấy là màu xanh tươi mơn mởn của cỏ cây mùa xuân. Sau những phút giây đắm chìm cùng huyền thoại, nhân vật trữ tình trở về với hiện thực. Một bức họa thật đẹp được dựng lên: Bức họa về lầu Hoàng Hạc soi bóng dòng Trường Giang và cùng với hình ảnh của cây cối, của cỏ xanh.

Đọc thêm  Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu

Những tưởng cảnh đẹp khiến cho lòng người thanh tịnh, sự nuối tiếc đã qua rồi cũng phải nhường chỗ cho niềm vui bởi có nhiều cảnh thiên nhiên trước mắt. Nhưng tâm trạng thi nhân lại chuyển đổi đột ngột:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Hai câu kết tạo ra sự đối lập với hai câu luận: đối lập giữa không gian thực và không gian tâm tưởng. Có sự chuyển động về thời gian, từ khi ánh nắng còn chan hòa đã chuyển sang buổi hoàng hôn mờ khói. Trong thơ ca cổ, các nhà thơ Đường có thói quen sủ dụng hình ảnh ước lệ, tượng trưng nhất là hay dùng thiên nhiên để gợi tả tâm trạng mà “hoàng hôn nhớ nhà” là một tứ thơ quen thuộc của Đường thi.

Ngoài nỗi nhớ quê hương, nếu nỗi nhớ mạch cảm xúc toàn bài thơ có thể hiểu thêm rằng hương quan hà xứ thị không chỉ là câu hỏi quê hương ở nơi nào? Mà còn có thể hiểu rộng ra : nơi nào để dừng chân, nơi nào là nơi bình yên để sống. Đây là vấn đề có ý nghĩa triết lý. Bốn câu thơ cuối với nội dung tả thực cảnh thiên nhiên và tâm trạng nhân vật trữ tình đã làm cho câu chuyện lầu Hoàng Hạc và người xưa gần hơn với cuộc đời.

Bài thơ có 56 chữ thì 55 chữ trước là bước chuẩn bị cho một chữ “sầu” đậu xuống, kết đọng trong tâm”. Quả thật, chữ sầu ở dòng thơ cuối đã kết tinh toàn bộ tâ trạng của nhà thơ. Kết tình toàn bộ sự bâng khuâng, nhớ tiếc, một nỗi buồn trong trẻo, mông lung và sâu không thấy đáy.

Bài thơ “Hoàng Hạc lâu” khép lại, để lại những dư vị riêng trong lòng độc giả. Bài thơ không chỉ nhắc đến truyền thống, nguồn gốc và vị trí của lầu Hoàng Hạc trong không gian thực và không gian ảo mà còn thể hiện những vấn đề triết lý nhân sinh có ý nghĩa: sự còn – mất; quá khứ – hiện tại. Đồng thời, thể hiện những trăn trở với cuộc đời, tấm lòng tha thiết với quê hương của tác giả.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *