Bình giảng một vài bài thơ Hai-cư

Bình giảng một vài bài thơ Hai-cư

Trong văn học Nhật Bản, thơ hai-cư chiếm một vị trí khá quan trọng. Thể thơ này ra đời và phát triển rộng rãi trong thời  kì Phục hưng văn học thế kỷ XVII – XVIII và song hành với đời sống văn hóa Nhật. Lúc đầu thơ hai-cư bắt nguồn từ các thể thơ ca truyền thống như trường ca, hòa ca, đoản ca… Sau đó một phần của bài thơ trong các thể thơ này tách ra độc lập và tồn tại một thời gian dài không có tên gọi chính thức, đến khi nhà thơ Shiki (1867-1902) gọi đó là thơ hai-cư  vào những năm cuối thế kỷ XIX rồi nó tồn tại  cho đến ngày nay. Thơ hai – cư đã để lại ấn tượng khá mới mẻ trong lòng độc giả.

Hai cư là một thể thơ truyền thống độc đáo của Nhật Bản (thi quốc), được hình thành từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ XVII có những thành tựu nổi bật. : thơ Hai cư thuộc loại ngắn nhất thế giới (cả bài chỉ 17 âm tiết, ngắt thành 3 đoạn 5-7-5). Nguyên bản tiếng Nhật chỉ có một câu thơ. Thơ hai – cư Phản ánh tâm hồn người Nhật-tâm hồn ưa thích hòa nhập với thiên nhiên, vì vậy nội dung thường hướng đên một phong cảnh, một vài sự vật cụ thể, một tứ thơ, một cảm xúc, một suy tư… của người viết.

Bình giảng một vài bài thơ hai-cư

Bình giảng một vài bài thơ hai-cư

Thơ hai – cư là thể thơ rất độc đáo, ý tại ngôn ngoại, khi viết về tình cảm con người có bài thơ viết:

“Đất khách mười mùa sương

về thăm quê ngoảnh lại

Ê –đô là cố hương”

(Ba –sô)

Bài thơ lá sư trải nghiệm cũng như cảm nhận trong cuộc đời ở khoảng thời gian mười năm xa quê, nhà thơ khắc họa trước mắt chúng ta hai vùng đất khác nhau, hai khoảng không gian, thời gian xa vời; đất khách và quê hương, xưa và nay. Trước cái vô hạn của không gian thời gian ta bắt gặp cái hữu hạn trong cuộc sống con người khi tuổi mỗi ngày một qua đi, sự gắn  bó với quê hương mỗi ngày một ngắn lại, từ đó nhà thơ cảm thấy yêu cuộc sống này hơn và “ngộ” ra một điều đâu cũng là quê hương. Ê-đô là cố hương. Như vậy trước cái hữu hình rộng lớn, nhà thơ biến thành cái vô hình nhỏ bé trong lòng tự mình biết để cảm nhận và diễn tả trải dài tình cảm nỗi niềm của mình đối với quê hương và đất nước. Bài thơ ngắn gọn còn là một triết lí sâu sắc trong quy luật tình cảm của con người với bất cứ nơi đâu khi bước chân mình đã qua, dù ngắn hay dài thì chuỗi thời gian ấy khó vơi trong mỗi chúng ta, một lúc nào đó chợt nhớ mình lại cảm thấy day dứt xót xa như còn mang một món nợ lớn trong đời.

Đọc thêm  Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây.

Cũng viết về tình cảm con người, một bài thơ nữa Ba –so viết:

“Tiếng vượn hú não nề

hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc?

gió mùa thu tái tê.

Người đọc gặp nỗi buồn nhân thế. Bố mẹ đẻ con ra không nuôi được vì nghèo đói mà mang bỏ trong rừng sâu. Sự thực ấy đi vào trong thơ gợi lên biết bao nỗi buồn tê tái. Tiếng vượn hú không phải rùng rợn mà não nề gan ruột, không còn nỗi buồn mà là nỗi đau nhân thế. Tiếng trẻ than khóc vì bị bỏ đói, bỏ rơi không phải vì cha mẹ độc ác mà vì cực chẳng đã, không nuôi nổi. Nỗi buồn ấy, gửi vào gió thu tê tái. Nỗi buồn ấy, đã nâng bổng giá trị thơ Hai – cư tới đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo. Điều đáng nói trong cái buồn ấy, có nỗi đau, càng đau hơn vì “Đau đời có có cứu đời được đâu”.

Khi viết về thiên nhiên, thơ hai – cư mang màu sắc mới:

“ Vắng lặng sầu u trầm

thấm sâu vào đá

tiếng ve ngâm”.

Đó là sự im lặng huyền diệu. Trong cảnh u tịch đó, tiếng ve ngâm như thấm sâu vào đá. Một liên tưởng độc đáo và không hề có tính chất thậm xưng bởi cảnh u huyền đó là có thực và con người khi chìm vào thế giới đó sẽ thảnh thơi mà lòng chìm vào những suy tưởng của bản thân. Cái đẹp của bài thơ cũng nằm ở chính hình tượng này.

Đọc thêm  Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu

Hay khi viết về lòng khát khao sự sống, thơ hai – cứ có một nét riêng:

“Nằm bệnh giữa cuộc lãng du

mộng hồn còn phiêu bạt

những cánh đồng hoang vu.”

Bản chất của Ba sô rất thích lãng du, ông nằm bênh. Lúc này, Con người đã đến lúc này còn có khát vọng gì nữa, gần đất xa trời rồi. Nhưng Ba – sô vẫn có khát vọng sống không phải để hưởng thụ mà sống vì sở thích của mình, du hành trên đất nước, lạc quan biết bao.

Ở những đề tài khác nhau, thơ hai – cư đều mang những vẻ đẹp mới mẻ và độc đáo. Đọc thơ hai – cư độc giả như thả hồn vào từng ý thơ. Chữ ít nhưng ý thơ nhiều, người đọc nhẹ nhàng, chiêm nghiệm những ý thơ hay.

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *